Khổng giáo (Nho giáo) được tôn sùng hoặc bị bài xích đến cao độ, tùy theo đối tượng và thời kì lịch sử. Nói chung, được tôn sùng vì tính nhân bản và bị bài xích vì tính nệ cổ, bảo thủ. Dù sao thì Khổng giáo đã có và hiện vẫn còn có ảnh hưởng sâu sắc và dai sức ở Trung Quốc, Nhật Bản, Nam - Bắc Triều Tiên và Việt Nam. Tại sao như vậy? Có lần ở Paris, khi trò chuyện với thầy thuốc Nguyễn Khắc Viện, triết nhân hiện sinh Pháp Camus ngợi ca Khổng học và cho là có thể ứng dụng nó để tạo một thế giới hòa bình. Ông Viện nói: “Nho giáo là một bộ phận cấu thành của một từng lớp khăng khăng. Có thật ông nghĩ rằng có thể tách nó ra khỏi bối cảnh lịch sử và từng lớp để phục vụ lại thời đại chúng ta chăng?”. Camus giơ hai tay lên trời đáp: “Biết sao được, tôi chỉ biết Nho giáo qua sách vở”.
Khổng phu tử hoặc Khổng Tử là danh hiệu tôn kính của hậu thế cho Khổng Khâu hay Khổng Khưu tự tôn Ni. Ông được tôn vinh như một trong những nhà khai sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư và triết nhân lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông (551 - 479 trước CN).
Theo ý ông Viện, Camus coi Khổng giáo như mọi triết lí lớn khác, có thể tìm thấy ở đây một căn cứ để mở tầm nhìn rộng lớn với con người và vũ trụ. Chỉ thế thôi! “Còn đối với người Việt Nam, đạo nho còn hơn là một thứ học thuyết biên chép trong sách của thánh hiền; đó là một di sản của lịch sử, một di sản cơ bản để hấp thụ, để chống lại, để vượt qua quá trình chuyển biến lịch sử mà sơn hà đang phải sang trọng trong thời đại hiện nay”.
Tôi nghĩ vấn đề đặt ra cũng rưa rứa như ở các nước khác ở Đông Nam Á: giữ hay bỏ tuốt, hoặc giữ cái gì, bỏ cái gì ở Khổng giáo - trong quá trình phát triển đương đại mang dấu ấn toàn cầu hóa văn minh công nghiệp kỹ trị, chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa cá nhân (*).
Khổng Tử là một triết gia, nhà giáo dục cổ đại. Thời trẻ, ông đi nhiều nước chư hầu nhưng không được trọng dụng, sau ông quay về nước Lỗ chuyên dạy học và viết sách. Ông là người trước hết ở Trung Quốc mở trường tư không phân biệt sang hèn. Ông thu thập tất tật những thành quả văn hóa trước ông, sắp xếp thành một hệ thống tư tưởng, đề cập đến vớ các vấn đề tri thức (Tứ thư, Ngũ kinh) . Tư tưởng chủ đạo của ông là tu dưỡng cá nhân chủ nghĩa để thích nghi với đề nghị từng lớp, trước tiên là để thành người thống trị, hướng dẫn người khác (quân tử). Khổng giáo nhằm vào các vấn đề thực tế, không viển vông trừu tượng. có nhẽ nhờ vậy, trong tầng lớp mà nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, cá thể lạc hậu, lại ngưng trệ hàng nghìn năm như Trung Quốc trước đây và một số nước hao hao, học thuyết đã có tác dụng ngự trị và Khổng Tử được tôn sùng làm “thánh”.
Sau Khổng Tử, các thời phong kiến giảng quyền lớn mạnh, thì các nhà nho đã hệ thống hóa thuyết lí Khổng Tử thành cương lĩnh nghiêm nhặt và áp đặt lên từng lớp, đặc biệt lên dân chúng cần lao, phụ nữ, bảo đảm lợi quyền triều đình phong kiến và chế độ gia trưởng phụ quyền. Nhưng khi từng lớp bắt đầu vượt khỏi thuộc tính nông nghiệp và những đề nghị dân chủ nảy nở mạnh, thì Khổng học bắt đầu bị phê phán. Nhưng mặt khác, ngày nay Khổng học vẫn tồn tại được do chủ chốt nhân bản của nó kết tinh trong bộ Luận ngữ và những truyền thống tốt đẹp của dân gian và trí thức cổ đại trong Tứ thư, Ngũ kinh .
Luận ngữ (quan điểm đàm đạo và lời nói) tiêu biểu cho Khổng học do môn sinh Khổng Tử chép lại sau những cuộc hội thoại với thầy. Có thể nói, toàn bộ thuyết Khổng Tử được thu gọn trong Luận ngữ . Người Nhật coi Luận ngữ là cuốn sách đã góp phần khai hóa nên văn minh Nhật Bản.
Đọc lại sách Luận ngữ , ta thấy hầu hết những tư tưởng của ông đều xoay quanh chữ “nhân”. Theo quan điểm Nguyễn Khắc Viện, nếu cần định nghĩa chữ “nhân” của Khổng Tử thì có thể nêu lên bốn điểm:
- khoan thứ với mọi người (kỷ sở bất dục vật thi ư nhân);
- Hiểu biết để có một thái độ đúng trong mọi hoàn cảnh;
- can đảm nhận bổn phận;
- Giữ mình đúng lễ. Nói tóm lại có tính người, có tình người.
Sau đây là một số câu do Trần Văn Quý và Nguyễn Khắc Viện trích dịch từ Luận ngữ :
+ Quân tử cầu ở mình, tiểu nhân cầu ở người.
+ Quân tử thanh tú mà không tự kiêu, tiểu nhân kiêu căng mà không thanh thoả.
+ Quân tử hòa với mọi người mà không hùa về ai, tiểu nhân thì hùa với mọi người mà không hòa với ai.
+ Quân tử bao giờ trong bụng cũng phẳng lồng lộng, tiểu nhân bao giờ trong bụng cũng lo phấp phỏng.
+ Quân tử cố mình giữ lúc khốn cùng, tiểu nhân gặp lúc cùng cực thì làm bậy.
+ Quân tử không biết được cái nhỏ mà có thể chịu được cái lớn, tiểu nhân chẳng thể chịu được cái lớn mà có thể biết được cái nhỏ vậy.
+ Quân tử làm điều hay cho người khác, không gây thành cái ác cho người khác.
+ Quân tử nghiêm túc mà không tranh với ai, hợp quần với mọi người mà không bè đảng.
+ Phú quý thì ai cũng muốn, nhưng không do đạo mà được thì không nhận; bủn xỉn thì ai cũng ghét, nhưng không lấy đạo mà làm cho khỏi thì không bỏ.
+ Mình tự trách mình nhiều mà trách người ít, thì xa được điều oán giận.
+ Ăn gạo xấu, uống nước lạnh, gấp cánh tay mà gối đầu, tuy vậy cũng có cái vui ở trong đó; làm điều bất nghĩa mà giàu sang thì ta coi như đám mây nổi.
+ Lấy điều ngay thẳng mà bảo, khéo tìm cách mà khuyên răn, không nghe thì thôi, nói lắm cũng vô bổ, cơ mà làm cho người ta khinh nhờn mình.
+ Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người.
+ Chưa thờ được người, thờ thế nào được quỷ thần.
+ Hỏi chết là thế nào, Khổng Tử nói: “Chưa biết được việc sống, biết thế nào được việc chết”.
+ Đức Khổng Tử (thọ 73 tuổi) nói: hồi mười lăm tuổi, ta đã để hết tâm não vào sự học; đến ba mươi tuổi, ta vững chí mà tiến trên đường đạo đức; được bốn mươi tuổi, tâm não ta sáng láng, hiểu rõ việc phải trái, đoạt được sự lý, chẳng còn nghi hoặc; qua năm mươi tuổi, ta biết Mệnh Trời; đến sáu mươi tuổi, lời gì, tiếng gì lọt vào tai ta thì ta hiểu ngay, chẳng còn nghĩ suy lâu dài; được bảy mươi tuổi, trong tâm ta dầu có muốn điều gì thì cũng chẳng hề sai phép.
+ Những lời dèm pha của kẻ độc hiểm ăn thua về lâu, những lời vu cáo của kẻ hung ác làm cho đau đớn như banh da xẻ thịt; trước những lời ấy, mình đừng ngả nghiêng mà nghe theo, đó gọi là người có trí minh bạch, sáng suốt.
+ Người chuyên làm điều nhân, hễ gặp điều nhân thì vui lòng làm ngay, chẳng nhường thầy mình.
+ Ông Diệp Công hỏi về cách thống trị, Khổng Tử đáp: “Phải được lòng dân, khiến kẻ ở gần, tức người trong địa phương thấy vui và người ở xa, tức người địa phương khác, vì mộ danh mà kéo nhau đến với mình”.
+ Khổng Tử nói: “Trầm mặc suy nghĩ đạo lý để ghi nhớ trong lòng, học đạo mà không biết buồn chán, dạy người mà không biết mỏi mệt, ba cái đức ấy có nơi ta chăng?”.
+ Khổng Tử nói: “Những kẻ sinh sau mình là hạng đáng sợ. Biết đâu sau này họ sẽ hơn mình hiện nay. Nhưng đến chừng bốn mươi, năm mươi mà chẳng nghe tăm tiếng của họ, thì chẳng còn sợ họ nữa”.
+ Tăng Tử nói: “Hằng ngày ta phải xét mình về ba điều: làm việc gì cho ai có hết lòng không? Kết giao với bạn bè ta có giữ được tín không? Đạo lý thầy dạy ta có học tập không?”
+ Khổng Tử nói: “Người quân tử học văn để mở mang tri thức; nhưng để tự kìm giữ mình thì phải học lễ”.
+ Khổng Tử nói: “Ta chưa từng thấy ai háo đức bằng háo sắc (mê gái)”.
+ Người trí chẳng để thiệt thòi một đời người, cũng chẳng để phí mất lời nói.
(*) Xem thêm Học “lễ” và học “văn” SK&ĐS số 112 ; Chữ “Nghĩa” số 116
Nhà văn hóa HỮU NGỌC
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét